SAO LẠI NÓI “KHÔNG TAM QUYỀN PHÂN LẬP LÀ QUAY LƯNG VỚI VĂN MINH NHÂN LOẠI”?
Ngày 15/11/2017, Bộ chính tri ban hành Quy định số 102-QĐ/TW về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm. Quy định nêu rõ các hình thức xử lý kỷ luật đảng viên tùy theo mức độ và tính chất vi phạm. Trong đó đảng viên sẽ bị kỷ luật bằng hình thức khai trừ nếu đòi thực hiện thể chế "tam quyền phân lập", "xã hội dân sự", "đa nguyên, đa đảng"; bôi nhọ lãnh tụ, lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Có thể nói, đây là biện pháp mạnh mẽ để đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức trong cán bộ đảng viên nhằm xây dựng và chỉnh đốn đảng có kết quả cao hơn.
Thế mà trên Facebook, có người cho rằng“KHÔNG TAM QUYỀN PHÂN LẬP LÀ QUAY LƯNG VỚI VĂN MINH NHÂN LOẠI”. Tác giả bài viết này đưa ra nhiều lập luận cho rằng TAM QUYỀN PHÂN LẬP LÀ THÀNH QUẢ CỦA VĂN MINH NHÂN LOẠI để quản lý xã hội tốt hơn, công bằng hơn, chống tham nhũng, độc quyền, không có gì hại cả. Mặc dù tác giả đưa ra một số nhận định và dẫn chứng để rộng đường tham khảo, điều đó đáng ghi nhận. Tuy nhiên, rất đáng tiếc là anh ấy quá tự tin dẫn đến chủ quan nên có lập luận lộng ngôn, mất tỉnh táo, thiếu mẫn cảm: “Do không có tam quyền phân lập, xã hội nước ta đang thành một mớ hỗn độn, không ai sợ ai, mặc sức các lợi ích nhóm tung tác, phá hoại đất nước. Không có tam quyền phân lập thì đất nước còn xác xơ vì bọn tham những ngày càng trắng trợn vì chúng vừa cầm quyền vừa cầm tiền!”
Nghiên lý luận chúng ta đều biết: Tư tưởng phân quyền có từ thời cổ đại ở phương Tây, với nội dung chính là: “Trong bất kỳ nhà nước nào cũng cần phải có những yếu tố bắt buộc: cơ quan làm ra luật có trách nhiệm trông coi việc nước, các cơ quan thực thi pháp luật và các tòa án”. Từ thế kỷ XVII - XVIII, trong cao trào chống chế độ quân chủ ở Tây Âu, Montesquieu (Pháp) phát triển toàn diện học thuyết phân quyền. Từ việc lột tả, phê phán bản chất của chế độ chuyên chế là lạm quyền, ông cho rằng, khi quyền lực tập trung vào một mối, một người hay một tổ chức thì nguy cơ chuyên chế là không tránh khỏi. Những tưởng có thể “chống lại” chế độ chuyên chế, “thanh toán” được nạn lạm quyền, ông đề xuất tư tưởng: tổ chức quyền lực nhà nước theo phương thức phân tách quyền lực; quyền lực tối thượng phải được phân chia thành ba hình thái: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Nội dung cốt lõi của tư tưởng đó là: mỗi cơ quan đại diện quốc gia chỉ thi hành một nhiệm vụ, một quyền hạn và chỉ có nhiệm vụ, quyền hạn ấy mà thôi; phải có sự độc lập giữa các cơ quan, một cơ chế kiểm soát quyền lực, v.v.
Thuyết phân quyền ảnh hưởng sâu sắc, làm cho những quan niệm về tổ chức nhà nước và thực tiễn tổ chức nhà nước tư bản mang nặng tính chất cơ giới. Khởi đầu của sự ảnh hưởng đó là thuyết cơ giới mới của Galilé, với chủ kiến: nguyên nhân của mọi chuyển động là do các lực tác động. Từ đó, tư duy cơ giới đã ảnh hưởng, lan tỏa sang cả các khoa học xã hội. Đối tượng nào cũng được xem như một “cỗ máy”, vận hành theo nguyên tắc cơ giới, kể cả bộ máy nhà nước. Ưu điểm của cách tiếp cận này chỉ giúp thấy được chi tiết cấu trúc, thành phần của các đối tượng, hỗ trợ chuyển nền văn minh từ nông nghiệp sang công nghiệp... Đến đầu thế kỷ XX, chính người phương Tây, tiêu biểu là nhà tư tưởng nổi tiếng Edgar Morin (Pháp) đã kịch liệt phê phán tư duy đó. Bởi nó là “tư duy manh mún, vụn mảnh”, là “một thứ tư duy định hướng vào việc phân cách thành từng ô, chia nhỏ ra và cô lập”; cần phải khắc phục nó bằng tư duy hệ thống. Ở Việt Nam, việc xem xét các vấn đề xã hội bằng tư duy đó cũng đã bị phê phán là phương thức “bộ phận đi đến toàn thể, trên nguyên lý: bộ phận quyết định toàn thể, toàn thể là do các bộ phận ghép lại mà thành, toàn thể chỉ là tổng số của các bộ phận”… Rõ ràng, sẽ là không thích hợp khi mở rộng tư duy cơ giới từ lĩnh vực tự nhiên sang lĩnh vực xã hội.

Cần khẳng định “tam quyền phân lập” có thể phù hợp ở các mức độ khác nhau với một số nước trên thế giới, nhưng không phù hợp với thể chế chính trị nước ta, bởi lẽ việc thực hiện quyền lực nhà nước theo phương thức nào là phụ thuộc vào thể chế chính trị của mỗi quốc gia. Ở nước ta, nhân dân là chủ nhân của quyền lực chính trị, quyền lực nhân dân là cội nguồn của quyền lực nhà nước, quyền lực đó chỉ có thể thực hiện một cách thống nhất dưới sự giám sát của nhân dân, chứ không thể phân chia, chia cắt, phân rã. Nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân được bảo đảm thực hiện bởi sự kết hợp hài hòa giữa dân chủ trực tiếp (tức là nhân dân trực tiếp tham gia quản lý nhà nước và xã hội, giám sát hoạt động của Nhà nước) và dân chủ đại diện (tức là nhân dân phân công và ủy quyền cho các cơ quan nhà nước thực hiện quyền lực nhà nước).
Các bản Hiến pháp của Việt Nam từ năm 1946 đến nay đã kế thừa những tinh hoa hiến pháp của nhân loại và nhiều giá trị nhân văn kể cả của Hiến pháp Hoa Kỳ. Tại Hiến pháp 2013, hình thức “phân quyền” giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp cũng được thể hiện ở các chương V, VI, VII, VIII. Nhưng bản chất, nội dung “phân quyền” thì lại khác hẳn về chất. Tất cả quyền lực nhà nước thể hiện trong Hiến Pháp đều có mẫu số chung là nhân dân. Từ nhân dân bầu ra, lập nên, “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân”, đồng thời là “cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”. Quyền lực nhà nước là thống nhất. Đây là sự tiến bộ vượt trội của Hiến pháp Việt Nam; phản ánh xu thế thời đại, trình độ phát triển cao hơn hẳn của lập hiến Việt Nam - lập hiến của nhân dân, hiến định quyền lực nhà nước tập trung ở nền tảng xã hội là liên minh “giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”. Sự thống nhất ở chỗ mọi quyền lực đều tập trung ở nơi dân, phân công quyền hạn là do dân. Nhân dân tập trung quyền lực nhà nước trong tay mình, phân công theo một mối duy nhất là Quốc hội. Bắt đầu từ Quốc hội, nhân dân phân công cho các cơ quan nhà nước thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Sự phân công rành mạch giữa các cơ quan nhà nước là tiền đề quan trọng để kiểm soát quyền lực nhà nước, bảo đảm nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Mặt khác, sự phân công đó cũng rất cần thiết để xây dựng một nền hành chính quốc gia ổn định, thống nhất từ Trung ương đến cơ sở. Yếu tố kiểm soát ở đây không phải là sự “kiềm chế”, “đối trọng”, mà là để tăng sự giám sát giữa các cơ quan thực hiện quyền lực nhà nước.
Đúng như TS Nguyễn Văn Quang nhận định: tư duy cơ giới là nền tảng của hiến pháp tư sản; “tam quyền phân lập” là thủ đoạn chính trị lừa gạt nhân dân của giai cấp tư sản; bản chất của phân quyền tư sản là thâu tóm quyền lực vào tay giai cấp tư sản. Bản chất quyền lực nhà nước ta là thống nhất, trên cơ sở phân công, phối hợp, kiểm soát việc thực hiện quyền hành của các cơ quan nhà nước. Hiến pháp Việt Nam là sự kế thừa có chọn lọc những giá trị truyền thống lập pháp, lập hiến của dân tộc, nhân loại và thời đại. Từ tinh thần, nội dung đến các nguyên tắc lập hiến đều của người Việt Nam, do người Việt Nam định đoạt, không chịu sự can thiệp, áp đặt bởi những triết lý lập hiến nào từ bên ngoài. Bởi vậy, “tam quyền phân lập” không phù hợp với thể chế chính trị ở Việt Nam.
THUẬN HÓA